WFH Quality Quantity

Work From Home – dịch sát là “làm việc từ nhà” , có nghĩa là 1 dạng làm từ xa (remote work), hay còn gọi là tele-commuting (động từ: tele-commute). Khác với “work at home” là làm việc ở “nhà” nói chung – không nhất thiết liên quan tới employment – có thể misc như trang trí phòng, sửa chữa gia dụng, sáng tác, etc… Ngoài ra, tôi ít dùng từ “Làm Ở Nhà” vì viết tắt hơi nhạy cảm .

Trước đây đa số dùng remote work là các bạn freelancers; ở các nước phát triển thì theo tôi biết ngành IT/ICT cũng có kha khá công ty cho phép WFH 1-3 ngày mỗi tuần; còn ở VN thì ít hơn (vẫn có 1 số công ty áp dụng linh hoạt WFH).

Tuy vậy từ khi COVID-19 bắt đầu, các quãng thời gian giãn cách xã hội và cách ly/phong tỏa khu vực đã làm WFH trở nên phổ biến hơn. Cũng như thúc đẩy số hóa, chuyển đổi số các lưu trữ và quy trình.

.

Đây là bài viết tôi tính gộp một số tips về WFH để đảm bảo hiệu quả và hỗ trợ thăng tiến, đã tham khảo qua một số bài viết và ít hội thảo, thảo luận trực tuyến. Ban đầu tôi tìm các tips này vì có cảm giác mình WFH hay bị kéo dài thời gian hơn dự kiến, tổng kết quả có vẻ ít năng suất hơn (đại khái, tự đánh giá kết quả mỗi ngày không giảm nhưng thời gian thêm 0.5-1.5 h mỗi ngày).

Ở post này, giờ chia sẻ lại, thì tôi sẽ chỉ chủ yếu tóm tắt bài viết của 1 bạn designer, mà tôi cảm thấy dễ tiếp thu – dù thông thường rất khó khi mô tả rationale/why – từng ý được giải thích nhẹ nhàng mà thuyết phục . Nhân tiện nói thêm 1 chút về tác giả bài gốc, bạn này có nhiều kinh nghiệm thực tế ( >= 5 năm làm từ xa ), và theo tôi được biết thì có viết nhiều bài đăng trực tuyến, cũng như có những thông tin khác về him, mà tôi cảm thấy đáng nể.
Ngoài ra, cũng có thấy một ít WFH tips khác (Atlassian, GitLab, …) nhưng ở đây tôi sẽ chưa chia sẻ, vì cảm thấy khó sắp xếp cho phù hợp trong giới hạn bài này – có thể sẽ ở vài post sau – và bản thân mình thử try chút đã xem có applied thực sự được không, và có thể môi trường nước ngoài có thể những điểm khác biệt hơi khó trực quan (intuitive) với một số độc giả Việt Nam.

.

(tác giả: H. N.)

Làm sao để đảm bảo cả chất và lượng khi làm việc từ xa?

Lợi ích khi làm từ xa

Thời gian và địa điểm như ý

Dễ cân bằng cá nhân và công việc

.

Bất lợi khi làm từ xa

Khó phối hợp và gắn kết

Khó quản lý thời gian dẫn đến quá tải và mất hiệu quả

Ảnh hưởng đến sự thăng tiến

.

Để có thể làm từ xa hiệu quả và đảm bảo thăng tiến

Có một thái độ Senior

Thay đổi tư duy

Tận dụng các công cụ hỗ trợ

Hình thành văn hóa khi làm việc từ xa

.

.

./.

(Source: Hoàng writing)

.

.

.

.

.

.

.

.

* Bonus:

Bài viết khác cũng về WFH (~ 1 năm trước, quả quyết hơn 1 chút), chủ yếu về What/How hơn là Why: https://hoang.moe/work-from-home-how-to-keep-your-productivity/

.

Với cá nhân tôi thì thấy nếu sắp xếp được 3 yếu tố sau thì cơ bản WFH đủ xài: góc làm việc riêng (đỡ nhiễu) + đường truyền Internet ổn (băng thông đủ rộng) + handle được hợp lý distraction/interruption (VD: con/pet ).

.

.

./.

Posted in CriticalThinking, GameTheory, Quote, Skill | Leave a comment

Learned Optimism Book

Nhân dịp Covid-19 bùng phát tại Đông Nam Á (và VN nói riêng), có nhiều thông tin “lan truyền năng lượng tích cực“, cũng như nhiều góp ý, “phê và tự phê“, … có thể thấy được trên mạng xã hội. Tôi cũng thử xem vài thông tin và áp dụng một số suy nghĩ của mình theo “critical thinking” (tạm dịch “nghiêm túc nghĩ lại”, dù có thấy người dịch là “tư duy phản biện” ) :

A/ 1 đoàn xét nghiệm Covid-19 đến xét nghiệm tổng quát 1 toà nhà gần chỗ tôi ở.
Có 2 điểm tôi quan sát mà suy nghĩ:

A1> Nhân viên xét nghiệm có đầy đủ đồ bảo hộ + nón che trong suốt + găng tay . Khi xong 1 tầng họ xịt sát khuẩn tay và bàn ghế đã dùng .

A2> Đội xét nghiệm bắt đầu xét nghiệm từ tầng trên cùng, từng tầng một xuống, cho đến tầng trệt.

B/ Quân đội phía Bắc vào hỗ trợ TpHCM (Quân khu 7 +… ) trong việc:

B1> kiểm soát dịch,

B2> hạn chế đầu cơ (ép giá nông dân + tăng giá người mua siêu thị)

, có thể giúp thêm
B3> ổn định tâm lý và “giám sát chéo” (CSGT địa phương cũng có người “this”, người “that”), và


B4> ngăn nguồn lây “chủ động” (thuyết âm mưu: gián điệp châu Á mang nguồn bệnh biến thể gieo hạt vào khu CN, xưởng, …)
https://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/covid-19-trung-quoc-bao-ve-thu-do-bac-kinh-bang-moi-gia-20210802192602903.htm
https://tuoitre.vn/trung-quoc-phong-toa-hang-trieu-dan-yeu-cau-bao-ve-bac-kinh-bang-moi-gia-20210802193857075.htm

Nhưng suy nghĩ nhiều vẫn chưa ra hướng hợp lý toàn vẹn, mà lại phát sinh tạp niệm vẩn vơ có xu hướng “lạc mục tiêu” dễ bộc phát tới người lân cận; tôi tìm đến một số bài viết về Work From Home hiệu quả (giúp tránh mệt mỏi, quá tải “bị cắp thời gian“, dễ sinh tâm lý dồn nén, cáu gắt); và một số bài viết về tư duy như thế nào là “tích cực” , là “lạc quan” .
May mắn là tìm được một bài tóm tắt sách (theo original author là “summary” hơn là “review“), những điểm trong bài này đã giúp tôi nhiều về nhìn nhận và suy nghĩ ; nên xin phép chia sẻ lại ở đây.


.

.

.

(tác giả: T. Q. T.)

LEARNED OPTIMISM

Sự Lạc Quan Học Được.

Đôi dòng từ cuốn sách “Learned Optimism” của Tiến Sĩ Martin E.P. Seligman.
Lâu lâu làm tóm tắt sách, thấy có thể có ích nên chia sẻ luôn 😂.

Trong cuộc sống của mỗi người thì luôn có nhiều sự kiện xảy ra (bản thân cái việc không có sự kiện gì xảy ra cũng là một sự kiện đối với người đó – rối não chưa).
Cách chúng ta giải thích về một sự kiện sẽ cho ta biết mình có khuynh hướng lạc quan hay bi quan.

* Người bi quan có khuynh hướng tin rằng những sự kiện xấu sẽ kéo dài, loài xói mòn/suy yếu giá trị hay tất cả mọi việc mà họ đã làm/xây dựng, và là lỗi của chính bản thân họ. Với những sự kiện tốt họ cũng có khuynh hướng nghĩ rằng điều này sẽ qua nhanh thôi, và là do may mắn hay tài năng của người khác chứ không phải của bản thân họ

* Người lạc quan, ngược lại khi gặp trắc trở họ sẽ nghĩ rằng điều đó chỉ là tạm thời, chỉ giới hạn trong chính bản thân sự kiện này, và rằng sự việc xảy ra không phải (chỉ) là do lỗi của họ: ví dụ như do hoàn cảnh – Ơ!


Tại sao lại phải mất công phân biệt ra cách giải thích chủ quan hay bi quan? Sự bi quan có thể ảnh hưởng xấu tới mỗi người trên ít nhất bốn lĩnh vực:

1. Thứ nhất, người bi quan sẽ dễ bị rối loạn chán nản, phiền muộn (depression), nhất là khi người đó hay “nhai đi nhai lại” ý nghĩ bi quan.

2. Thứ hai, người bi quan sẽ đạt được thành tựu ít hơn so với tài năng mà họ có.

3. Thứ ba, sức khỏe của người bi quan – chức năng miễn dịch – có thể không tốt ở mức mà lẽ ra nó phải vậy, và tình trạng sẽ càng tồi tệ hơn khi người đó già đi.

4. Cuối cùng, cuộc sống của người bi quan cũng không được viên mãn như lẽ ra nó nên thế.

Nói như vậy không có nghĩa là lúc nào ta cũng nên dùng cách giải thích lạc quan hay tỏ ra lạc quan. Nếu chi phí của việc thất bại trong một tình huống nào đó là lớn thì ta không nên dùng suy nghĩ lạc quan mà một chút bi quan lại phù hợp. Ví dụ những người hơi bi quan (mild pessimists) thì phù hợp với các công việc như: kỹ sư thiết kế an toàn, ước lượng giá, thương lượng hợp đồng, tài chính kế toán…

Còn lại thì ta nên áp cách giải thích lạc quan. Nói là “cách” là vì đây là thứ mà mỗi người có thể học và áp dụng, ngay cả đối với những người có khuynh hướng giải thích bi quan.

Vậy ta phải làm gì nếu ý nghĩ bi quan cứ vẫn vơ trong đầu.

Cách 1: Dùng kỹ thuật đánh lạc hướng

* Hướng sự chú ý của ta tới một ý nghĩ hay sự vât khác. Ta có thể quan sát thấy 1 đồ vật nào đó và quan sát tỉ mỉ, ví dụ tờ lịch, cuốn sách, cái cây, con mèo/chó.

* Quyết định là sẽ suy nghĩ về vấn đề đó vào một lúc nào đó khác, có thể lên lịch luôn cho thời điểm để suy nghĩ

* Viết cái suy nghĩ đó ra (trên giấy, máy tính, điện thoại) và sau đó hướng sự chú ý tới cái khác.

Cách 2: Dùng kĩ thuật chất vấn bác bỏ lại cái suy nghĩ/cách giải thích bi quan

* Dùng các bằng chứng dữ liệu để chỉ ra cái cách giải thích/suy nghĩ bi quan là sai.

Đây là điểm khác của cách suy nghĩ lạc quan so với cách “suy nghĩ tích cực” kiểu “mỗi ngày, trong mỗi việc, tôi sẽ làm tốt hơn và tốt hơn” như kiểu động viên của các bạn nhân viên đa cấp.

* Tìm những nguyên nhân khác cho sự kiện/cách giải thích bi quan: tập trung vào những nguyên nhân có thể thay đổi được, cụ thể, và không cá nhân hóa.

Ví dụ như khi thi rớt một môn nào đó thì mình có thể tìm những lý do như: mình chưa có bỏ ra nhiều thời gian đủ để học (có thể thay đổi được), hay kỳ thi này là thật sự khó (cụ thể), hay vi diệu hơn là sư này chấm điểm không công bằng – bleh !(không cá nhân hóa)

* Làm bớt trầm trọng cái suy nghĩ: ngay khi cả các bằng chứng dữ liệu không theo ý mình (vẫn hướng theo cái bị quan) thì coi thử việc đó có thực sự ngụ ý gì không (người ta đẹp hơn mình nhưng không có nghĩa là người ta sẽ giật được người yêu của mình) hay coi khả năng xảy ra của cái suy nghĩ bi quan đó có cao không, cao bao nhiêu (ví dụ lo sợ công việc/dự án của mình bị thất bại: khả năng cao thế nào?)

* Coi thử cái suy nghĩ/cách giải thích bi quan đó có ích lợi gì cho mình không tại thời điểm hiện tại.

Nếu không thì hãy dùng kỹ thuật đánh lạc hướng bên trên.

Ngoài các ý trên, tác giả còn đề cập tới việc ngày nay tại sao xã hội tỷ lệ những người bị “Rối Loạn Chán Nản” – Depression – ngày càng cao (ý gốc là của Mỹ, Phương Tây, mà tui thấy vẫn đúng ở Việt Nam, các nước phương Đông):

* Cái Tôi của mỗi cá nhân thì được bơm phồng lên bởi chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tiêu dùng cá nhân.

* Sự kết nối cộng đồng ngày càng giảm.
Ở đây ám chỉ sự kết nối với đất nước, sự kết nối với địa phương, gia đình, hay thậm chí sự phát triển tâm linh của mỗi cá nhân. Điều này làm mất đi ý nghĩa kết nối bản thân cá nhân vào một cái gì đó to lớn hơn.

.

PS1: tui thì mạn phép góp thêm 1 ý là khi sự kiện gì đó xảy ra, chúng ta không nhất thiết phải đi tìm lý do để giải thích, để đổ lỗi. Hãy để nó như là (let it be).

PS2: tui làm bài test thì ra kết quả là có cái nhìn hơi bi quan.
Tui cũng hiểu đây là do môi trường/cách tôi lớn lên/trưởng thành.
Ví dụ cần phải nhận lãnh trách nhiệm khi có thất bại xảy ra hay phải biết khiêm tốn khi thành công.
Tin vui là tui sẽ áp dụng cách giải thích của tác giả ví dụ như trách nhiệm thất bại vẫn thuộc về tui nhưng lý do thất bại thì là những cái tạm thời, cụ thể, và không phải do cá nhân tôi (hoàn toàn).
Hoặc như khi thành công thì khiêm tốn nhưng cũng phải biết ghi nhận công sức/tài năng của cá nhân mình đã bỏ ra thế nào (dù không cần nói ra 😋).

PS3: trẻ nhỏ thì vẫn có thể có khuynh hướng bi quan và bị rối loạn chán nản nếu như ba mẹ hay cãi cọ trước mặt con cái. Và tệ hơn là cãi nhau/đánh nhau xong thì lại không giải thích được với con vì sao lại làm vậy. Tự dặn lòng!

./.

(Source: FB của Trung Thiều)

.

.

.

.

.

.

.

* Bonus:
Có thấy 2 quyển sách khác, có vẻ gần chủ đề, cùng từ nguồn tác giả bài viết ở trên. Tạm thời chưa tìm thấy review/summary phù hợp, sẽ bổ sung sau, giờ để hình lên đây luôn:

(escaping emotional entrapment – thoát bẫy cảm tính)

.

(grain brain – bánh mì & não bộ)

./.

Posted in CriticalThinking, CupidPolitics, PositiveReinforcement, Wisdom | Leave a comment

Tu Luyen – Thang Nang Luong

Thang Kardashev hay thước Kardashev là phương pháp đo mức phát triển của một nền văn minh, được đề xuất lần đầu tiên bởi nhà thiên văn học Xô Viết Nikolai Semenovich Kardashev vào năm 1964.



.

.

.

.

.

.

.

.


Loài người đang phát triển đến đâu? Đã thực sự trở thành một nền văn minh tiên tiến trong vũ trụ hay chưa?

Trái đất đang ở đâu trong công cuộc phát triển của vũ trụ?

Chúng ta có thật sự là những sinh vật của một nền văn minh tiên tiến?

Thang Kardashev

Vào năm 1963, nhà thiên văn học người Nga Nikolai S. Kardashev đã đưa ra một cách giả thuyết để trả lời cho những câu hỏi trên. Ông đã tạo ra một thước đo cho văn minh nhân loại, được biết đến với cái tên “Kardashev Scale“. Đây là một phương pháp phân định độ tiên tiến của một nền văn minh dựa vào mức độ năng lượng mà hành tinh đó có thể khai thác.

Kardashev đã từng khẳng định lý thuyết của mình trong một bài báo về phương pháp truyền đạt thông tin của những hành tinh khác trái đất. Đây là một trong những công trình có ảnh hưởng đến giới khoa học bấy giờ, góp phần tạo nên tên tuổi của ông. Ông phát triển lý thuyết của mình từ khả năng (người ngoài hành tinh!?) truyền các tín hiệu vô tuyến qua vũ trụ để trao đổi thông tin. Theo Kardashev, có 3 loại văn minh vũ trụ. Giả thiết này hiện đã được phát triển thêm bởi các nhà khoa học hậu bối, mở rộng không chỉ ở khía cạnh công nghệ truyền tín hiệu, mà còn thêm những yếu tố khác.

Bậc thang thứ nhất

Một nền văn minh loại 1 là nền văn minh có khả năng khai thác toàn bộ năng lượng của hành tinh “Mẹ“, tức là chính hành tinh quê hương. Đều này đồng nghĩa với khả năng sử dụng và điều khiển tất cả năng lượng có sẵn như năng lượng mặt trời và năng lượng sản xuất được như nhiệt, thủy điện, gió…

(công thức Carl Sagan – tính mức độ thang Kardashev)

Đây chính là mức độ mà trái đất chúng ta đang “phấn đấu” lao tới. Nếu thang Kardashev có mức độ… thấp hơn mức độ 1, thì chúng ta đang ở ngưỡng 0.72! 0,72 cho một hành tinh có năng lượng hạt nhân, có smartphone, hệ thống vệ tinh và số lần bay ra vào vũ trụ như cơm bữa?



Thế nào các bạn, loài người vẫn còn xanh quá nhỉ?!


Cấp độ 1: làm chủ thiên nhiên và khai thác toàn bộ năng lượng hành tinh nhà.

Cấp độ 1: làm chủ thiên nhiên và khai thác toàn bộ năng lượng hành tinh nhà.

Nhà vật lý Michio Kaku nghĩ rằng một nền văn minh cấp độ 1 sẽ có khả năng KIỂM SOÁT những động đất, thời tiết, núi lửa. Thậm chí dân số sống trong những thành phố dưới đáy biển sẽ còn đông hơn trên mặt đất. Theo giả thiết này thì con số 0.72 mà chúng ta đang đứng còn… xa xôi nữa. Theo tính toán của Kaku, khoảng cách để trái đất có thể đạt đến mức độ 1 sẽ “chỉ” là 100-200 năm nữa.

Bậc thang thứ hai trong văn minh vũ trụ

Điều gì đứng đợi sau cấp độ 1? Một khi sử dụng những nguồn năng lượng trên trái đất (và điều khiển hoàn toàn thiên nhiên) thành công, năng lượng từ những hành tinh bạn sẽ là đích đến của một nền văn minh cấp độ 2. Tấm bằng chứng nhận cấp độ 2 sẽ được trao khi hành tinh cấp độ 1 “hút trọn” năng lượng của một ngôi sao xấu số nào đó để nuôi thân.

Cấu trúc Dyson Sphere

Đây chính là thứ vũ khí tối thượng để “hút trọn” năng lượng của một ngôi sao. Dyson Sphere là một siêu vũ trụ được xây dựng bao quanh một ngôi sao, ngày ngày chiếm đoạt năng lượng của nó, sau đó số chiến lợi phẩm này ngược về để nuôi hành tinh mẹ.

Cấu trúc khổng lồ này được xây dựng trên một công nghệ siêu hiện đại, bao phủ một diện tích lớn hơn 600 triệu lần so với diện tích bề mặt trái đất, đây là ý tưởng của nhà vật lý học và nhà toán học Freeman Dyson vào năm 1960. Tất nhiên, Dyson Sphere sẽ để lại những ngôi sao “chết“, tức những ngôi sao hết năng lượng, viễn cảnh này đã được tiên đoán trước trong bộ phim ăn khách Star Wars.

Vậy trái đất còn cách kỉ nguyên của cấu trúc Dyson Sphere bao xa? Câu trả lời (dữ liệu dự đoán) là khoảng 1000-2000 năm.


Minh họa một cấu trúc Dyson Sphere

Minh họa một cấu trúc Dyson Sphere

Bậc thang thứ ba

Một nền văn minh loại 3 lại là một trật tự tiến hóa khác. Khoảng cách từ cấp độ 2 đến cấp độ 3 có thể lên tới con số ​​100.000 năm hoặc thậm chí là lâu hơn nữa. Các hành tinh cấp độ 3 được Kardashev nhìn nhận như “một nền văn minh sở hữu năng lượng của một hệ ngân hà“.

Đúng vậy, một hành tinh sẽ được “trao bằng” cấp độ 3 khi có trong tay năng lượng của khoảng 100 triệu ngôi sao – tức 1 ngân hà. Đạt đến cảnh giới này, con người sẽ tiến hóa thành một loại sinh vật cybernetic hậu sinh học.


Hành tinh cấp 3 hoàn toàn có thể tự tạo ra những ngôi sao năng lượng của riêng mình.

Hành tinh cấp 3 hoàn toàn có thể tự tạo ra những ngôi sao năng lượng của riêng mình.

Đọc đến đây chắc các bạn cũng đã có cho mình một hình tượng về một siêu hành tinh cấp độ 3 rồi chứ? Chúng ta đang nói về một hành tinh mà robot thay thế loài người, xây dựng những cấu trúc Dyson Sphere để hút năng lượng của tất cả các ngôi sao.

Sử dụng một lực đẩy siêu việt nào đấy mà khoa học hiện hành (và cả loài người nữa) chưa tưởng tượng ra được để di chuyển khắp hệ ngân hà của chính nó. Thậm chí một hành tinh cấp 3 hoàn toàn có khả năng lấy năng lượng từ hố đen vũ trụ, hoặc tự tạo ra cho mình những ngôi sao chỉ để khai thác năng lượng, đỡ mất công đi đánh chiếm.

Những bậc thang khổng lồ của văn minh

Không dừng lại ở mức độ thứ 3, câu hỏi tiếp tục được thang Kardashev đặt ra: “Tiếp theo là gì?” Kardashev không đưa ra một giả thiết cụ thể về những nền văn minh tiến bộ hơn nữa, nhưng các nhà tiên đoán đã đề xuất rằng một thế giới loại 4 có thể khai thác năng lượng của toàn bộ vũ trụ. Rồi một thế giới loại 5 có thể làm như vậy theo cấp số nhân, tức là từ nhiều vũ trụ.

Kết

Vậy còn loại 6 hay loại 7 thì sao? Theo nhà vũ trụ học, nhà toán học và nhà vật lý vũ trụ John D. Barrow, thì khi đạt đến mốc 6, một nền văn minh có thể thay đổi những thành phần cơ bản nhất của vật chất theo ý mình, như các hạt quark hay hạt lepton; mốc 7 sẽ là khi ta nắm trong tay cấu trúc của thời gian và không gian.

Các mốc thang được Kardashev đưa ra xưa kia chỉ dừng lại ở con số 3 – khi một nền văn minh có thể có được lượng năng lượng bằng cả thiên hà thôi. Tất cả những mốc sau, xin được nhường lại hết cho trí tưởng tượng của con người.

./.

(Source: GenK, KhoaHoc.tv, QuanTriMang)


.

.

.

.

.

.

.

.

* Bonus: video các hành tinh





./.

Posted in CriticalThinking, PositiveReinforcement, Skill, TuLuyen | Leave a comment

Tu Luyen – Intro

Đã 1 thời gian ít viết bài, nay tác giả blog sẽ cố trở lại nhiều hơn (estimation: 1-4 posts/month, có thể ít nhiều trích dẫn) với những bài viết về:

+ Computer/Geek

+ Marketing

+ Positive Reinforcement

+ GameTheory

+ Tu Luyện *

+ Tu Tâm, Luyện Phong Cách *

(dấu “*”: New – ngoài 1 trong 4 chủ đề “may mắn” trước giờ)

Lý do ít viết bài thì có chăm con nhỏ (3 yo), vừa cần tích lũy kinh nghiệm & vốn sống, và vừa có lý do khách quan (thường xuyên ERR_CONNECTION_CLOSED khi truy cập trực tiếp tên miền ducquoc.wordpress.com – maybe DNS/ISP issue).

(Tips: ngoài các tips đã đăng ở 1 post trước đây, để truy cập tên miền ducquoc.wordpress.com tôi thường truy cập trong cùng 1 domain WP khác – VD: thichhoctoan.wordpress.com , hoac wordpress.com/posts/ducquoc.wordpress.com , rồi từ đó mới type address bị vđ, hoặc nhấn vào link nếu có )

2 chủ đề mới, vẫn còn đang ấp ủ, sẽ từng bước publish. Bài này là bài đầu chính thức giới thiệu, cũng là “Disclaimer” (miễn trừ trách nhiệm) chung cho những phần về sau. Nếu có thiếu sót xin quý độc giả bình luận nhè nhẹ, tác giả blog cũng mới ở giai đoạn đầu chủ đề này, các ý kiến bổ sung sẽ được tiếp thu.

.

.

.


Phi Lộ

(lời mở đầu, lời giới thiệu – còn “Vĩ Thanh” thường là lời cuối chuyện)

Phạm Vi

Tu Luyện, là 1 phạm trù rất rộng . Ở blog này với kiến thức hạn chế của mình, tác giả blog xin mạo muội giới thiệu một vài tập con nhỏ trong Tu Luyện mà tôi đang tiếp cận:

Huyền Huyễn

hay còn gọi là “X” Hiệp (Võ Hiệp, Kiếm Hiệp, Tiên Hiệp, … ) , có thể là tu võ thuật/võ đạo, tu tiên/thần, tu ma/quỷ, tu yêu/dị, … nhắm đến Lực Lượng, Trường Sinh, Tiêu Dao Tự Tại .

Khoa Huyễn

hay còn gọi là Khoa Học Viễn Tưởng, có thể kết hợp Huyễn Ảo, hướng tới Năng Lượng, Siêu Vật Chất, Vũ Trụ + Dải Ngân Hà + Thực Thể Siêu Tồn Tại .

Tu Tâm & Luyện Phong Cách

hay còn gọi là “tu dưỡng Tâm tính”, “hàm dưỡng Phong độ”, “khí Chất”, … hướng về Đạo Tâm, Nhân Tâm.

. . .
còn nhiều nữa (VD: Khổ Hạnh, Tri Giả, … ) nhưng tạm thời tôi chưa có điều kiện tìm hiểu nhiều nên sẽ chỉ tập trung trước vào 3 loại trên; chủ yếu là tu Tâm, luyện Phong cách.

Nên các bài về sau, sẽ tách ra nằm trong 2 phần category TuTamPhong: “Tu Tâm, Luyện Phong Cách” và TuLuyen (1 trong 2 chủ đề nhỏ còn lại), chỉ là 1 phần nhưng vẫn phân loại nằm trong tập lớn như vậy.

.

.

.

Lưu Ý Giá Trị & Cảm Nhận

Xin lưu ý, những bài viết ở chủ đề này – sẽ có trích dẫn từ các bậc tiên hiền, tiền bối, đạo cao vọng trọng – phần nào diễn giải về Tu Luyện nhưng khả năng sẽ có thiếu sót nên sẽ “không cam đoan” độc giả có thể “ngộ” điều gì mới sau 1 lần xem, mà cũng không có nghĩa người đọc hết bài viết sẽ “đạt được 1 cấp độ” nhất định.

Ngược lại, cũng không nên xem nhẹ việc người khác có ý tìm hiểu hoặc đánh giá cao về mặt nào đó trong các bài viết. Vì có thể đối với mỗi người, nó có những giá trị nhất định . Mà chưa chứng minh được mặt “có hại” nào một cách rõ ràng.

Nếu chưa hiểu, người đọc có thể nghĩ đến gần như 1 ví dụ có nói đến Tu Luyện, là tiểu thuyết “Tây Du Ký” , về thầy trò Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Ngộ Năng, Sa Ngộ Tịnh . Tác phẩm này hiện đại được biết đến nhiều ở dạng phim ảnh, hoặc truyện tranh . Lúc nhỏ tôi thích đọc, khi lớn cũng thích nghiền ngẫm lại, đôi khi chia sẻ với bạn bè.
Cá nhân tôi – đầy tôn trọng tới tác giả (hoặc đoàn SX phim) – thích đọc/xem TDK, và khi xem như vậy không có nghĩa là tôi đã “đạt được” thành tựu gì, cũng ko có nghĩa là “so sánh” với các nhân vật như Kim Giác, Ngân Giác, Cửu Vĩ Hồ, … hãy xem như là 1 độc giả có tinh thần “giải trí”, “học hỏi” của 1 người thích đọc sách, vậy thôi.

Một số người phương Tây, thỉnh thoảng cũng có ý xem thường người phương Đông xem “Tây Du Ký“, “Phong Thần diễn nghĩa“, nhưng bản thân họ thì xem “Iron Man“, “Super Man“, “Batman“, … các kiểu ; cũng hơi khó hiểu nhỉ.

Mặt khác, có một ít trường hợp, khi xem các chương trình đô vật wrestling của người Âu Mỹ, thì tỏ vẻ không đánh giá cao – bảo không đẹp mắt bằng phim chưởng Hồng Kông mà họ ưa thích !
Âu thì cũng là quan điểm cá nhân, tôi sẽ không phản bác (dù tôi rất nể sự rèn luyện và sức khỏe, endurance của các bác wrestling).


Cuối cùng, với trường hợp người có tinh thần “học hỏi”, “tu tập”, … thì khi đọc xong 1 quyển sách hoặc 1 bài viết về Tu Luyện thì 2 người khác nhau sẽ thường cảm nhận khác nhau. Nên thiết nghĩ các độc giả không nên đơn giản kỳ vọng là vừa đọc xong 1 lần sẽ nắm được hoàn toàn “bí kíp” nào đó .

Cũng không nên quá kỳ vọng vào việc xem sách/article có tác giả là Bậc Thầy or Tông Sư , vì trừ khi là đệ tử chân truyền or “y bát”, các trường hợp “hiểu cái mới” phụ thuộc rất nhiều vào ngộ tínhcầu thị của người tu tập. Bản thân tu luyện vốn dĩ là 1 quá trình nữa, khó “đốn ngộ” được.

Nói như ngạn ngữ Trung Quốc, “sư phụ dẫn lên cửa, tu hành tại cá nhân“, nỗ lực và nền tảng tích lũy của mỗi người sẽ là yếu tố quan trọng nhất cho sự tinh tấn và thành tựu của chính người đó.

Một người thầy giỏi sẽ là yếu tố quan trọng để giảm bớt vướng mắc, giúp hoàn thiện cách học & tiếp cận, giúp tăng sự tiếp thu trong quãng thời gian nào đó. Nhưng đa phần ở quãng “chiêm nghiệm” và quãng mức cuối có thể, phụ thuộc tối đa vào bản thân mỗi cá nhân.

.

.

.

./.

Posted in GameTheory, Marketing, TuLuyen, Wisdom | Leave a comment

Quarantine Lockdown Mental

.

.

.

(tac gia: N.T.P.L. )

Việc nhà trong giãn cách

Năm người cùng ở nhà, bên nhau toàn thời gian hóa ra không lãng mạn như tôi tưởng.

Ngày thứ ba của tuần đầu tiên giãn cách xã hội, tôi bảo chồng: “Hay nhà mình chỉ ăn hai bữa mỗi ngày thôi? Em mệt quá!“. Sáng ra, chỉ nghĩ đến việc hôm nay cả nhà sẽ ăn gì và lại ăn gì trong ba bữa đã khiến tôi chán ngán.

Vòng quay mỗi ngày là: ăn – làm việc, học – ăn – làm việc, học – ăn – con ngủ, bố mẹ tiếp tục làm việc. Có gia đình còn chế thêm mục “mắng nhau” trong thời gian biểu mùa dịch khiến tôi bật cười.

Nhưng thực sự, chúng tôi mau chóng cảm thấy nản. Chưa kể, giữa vòng quay đó là những lần các con léo nhéo khóc đòi ba mẹ làm quan toà; đang họp online thì phải đứng dậy nấu cơm vì con kêu đói; chưa hết giờ làm bị vợ giục đi siêu thị nếu không nó đóng cửa.

Trước đây, khi Covid chưa gõ cửa, chúng tôi vẫn than phiền về việc vợ chồng con cái chỉ gặp nhau vài tiếng mỗi ngày. Sau giờ tan trường, bọn trẻ ăn uống tắm rửa rồi đi ngủ sớm. Buổi sáng, đứa lớn ra khỏi nhà khi chúng tôi chưa tỉnh giấc. Tôi cảm thấy thời gian dành cho gia đình không bao giờ đủ.

Khi tổng thống Pháp ban hành lệnh phong tỏa vào tháng tư năm ngoái, tôi có chút phấn khích. Đây sẽ là khoảng thời gian lịch sử, cả gia đình tôi sẽ ở bên nhau 24/7, đúng như ao ước. Tôi hào hứng lên kế hoạch chi tiết cho hoạt động của cả nhà, tin tưởng rằng mọi việc sẽ chạy êm ru như con tàu TGV đặc trưng của nước Pháp.

Nhưng đời không như là mơ.

Mặc dù được ở nhà nhưng vợ chồng tôi vẫn phải làm việc đủ ngày 7 tiếng. Đôi khi sếp cũng thông cảm, cho phép làm bù vào buổi tối nếu việc không quá gấp. Tương tự, ba con tôi dù ở nhà vẫn học trực tuyến, phải lên mạng đúng giờ như ở trường, hàng ngày phải trả bài đầy đủ cho thầy cô. Không chỉ đơn giản là “có mặt” trên mạng, các cháu còn cần người lớn bên cạnh để hỗ trợ các vấn đề kỹ thuật.

Vậy là, mang tiếng “được ở nhà“, nhưng chúng tôi quay cuồng với những nhiệm vụ cộng dồn: trợ giảng, trông trẻ, chợ búa cơm nước, vệ sinh, lau dọn nhà cửa trong khi vẫn làm việc như đang ở công sở. Vẫn từng đấy công việc nhưng giờ đây khối lượng gấp 3, 4 lần, vì ở nhà cả 24/7, mọi nhu cầu đều tăng lên.

Mọi kế hoạch hoạt động thể chất lẫn tinh thần ban đầu tôi hào hứng vạch ra đều đổ bể. “Trò của mẹ chán quá“, các con kêu, còn tôi thì quá mệt khi phải chạy theo chúng.

Lúc này tôi mới hiểu vì sao người ta ví “trốn như chó mẹ trốn con“. Nhiều khi tôi chỉ muốn nhốt mình trong phòng riêng, đóng chặt cửa để có được đôi phút yên tĩnh một mình.

Tôi bàn với chồng về việc cắt giảm bữa ăn, đỡ tốn thời gian nấu nướng và ăn uống, dọn rửa, “không hoạt động nhiều thì cần nhiều năng lượng làm gì“. Và chúng tôi giảm bữa ăn thật. Một bữa ăn đầu ngày đầy đủ, bữa tối ăn rất ít và chủ yếu là rau.

Đại dịch Covid-19 đã khiến không ít gia đình tan vỡ. Những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19 như Anh, Mỹ và Trung Quốc đều có tỷ lệ ly hôn tăng cao không lâu sau các kỳ phong toả.

Có lẽ, Covid-19 không tạo ra những lý do mới để các cặp đôi đệ đơn ly hôn mà chính khoảng thời gian ở cạnh nhau quá nhiều khiến họ nhận ra rõ hơn, rằng họ không thực sự thuộc về nhau, hay có thể bền bỉ cùng nhau vượt qua những trở ngại và khác biệt.

Tuy vậy, Kinch – luật sư của văn phòng luật Stewarts, Anh – nhận thấy, đến 76% đơn ly hôn năm ngoái đến từ các bà vợ, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính do phần lớn công việc không được trả lương như chăm sóc con cái, nhà cửa đều dồn lên vai phụ nữ.

Nhiều người vợ, khi kỳ phong toả bắt đầu, đều phấn khích nghĩ rằng “a, giờ đây chồng mình sẽ có thêm thời gian để chia sẻ việc nhà, thật tuyệt“. Tuy nhiên, thực tế lại không diễn ra như vậy. Và mâu thuẫn sớm muộn đã đến.

Bạn tôi, mẹ của ba đứa con trai từ hai đến 13 tuổi tâm sự, dù không có công việc riêng, chỉ đảm nhiệm chăm sóc chồng con mà ngày nào chị cũng quay cuồng. Trước dịch, chồng đi làm, con đi lớp, chị còn có chút thời gian cho riêng mình, “giờ thì không lúc nào ngơi tay, có lúc chị tưởng mình phát điên“.

Ta vẫn thường bào chữa cho các ông chồng rằng, ai giỏi việc gì phải tập trung cho việc đấy. Chồng lo kinh tế cho gia đình, vợ đảm nhận việc nhà là tất lẽ dĩ ngẫu còn tranh cãi nỗi gì. Các nhà nghiên cứu thuộc Oxford, Cambridge và Zurich đã thực hiện cuộc khảo sát vào tháng ba và tháng tư năm ngoái tại Anh, Đức và Mỹ. Dữ kiện cho thấy, phụ nữ ở ba quốc gia này dành thời gian chăm sóc và giáo dục con cái trong thời gian phong toả nhiều hơn nam giới, mặc dù hai vợ chồng thu nhập bằng nhau.

Khi tính về đóng góp kinh tế trong gia đình, chúng ta dường như quên việc tính giờ và cả “lương” trả cho mỗi bà vợ vì họ đã chăm sóc con cái, nấu nướng hay dọn dẹp. Nhưng chúng ta sẵn sàng trả lương cao cho người giúp việc. Nếu các ông chồng phải trả lương cho vợ mình, có ai thử tính mỗi tháng sẽ là bao nhiêu?

Chia sẻ việc nhà với vợ là một nhẽ, nhưng có bao nhiêu ông chồng tự giác, hay đợi vợ bảo gì làm nấy, hoặc vợ “nhờ” cũng không làm? Bên cạnh những việc bày ra trước mắt như rửa bát, lau nhà, đi chợ, nấu cơm, còn vô số những đầu việc vô hình: khi nào phải giặt quần áo, giặt thế nào, bao giờ cần đi chợ và mua những gì, mấy giờ con học, mấy giờ chúng phải tắm, có mấy hóa đơn phải thanh toán…

Daminger, nhà nghiên cứu tại Đại học Harvard, nhận thấy các bà vợ chẳng những phải làm việc nhà nhiều hơn mà còn phải lo lắng cắt đặt, suy nghĩ về chúng nhiều hơn. Đây mới là nguyên nhân chính của cãi vã giữa các cặp đôi.

Mặt khác, khi rơi vào tình trạng kiệt sức về thể chất, sức khoẻ tinh thần của chúng ta không còn được đảm bảo. Nhà tâm lý học Stan Tatkin cho rằng não bộ ta được cấu trúc để tồn tại trước, tình yêu là thứ đến sau. Để sinh tồn, trung tâm cảnh báo nguy cơ trong não bộ phát triển nhạy bén hơn bất kỳ bộ phận nào. Khi mâu thuẫn xảy ra, con người sẽ tập trung vào những điều đang đe doạ họ nhiều hơn mọi thứ.

Việt Nam giãn cách xã hội gần như muộn nhất so với các nước. Đây là tin tốt vì ta có thể rút kinh nghiệm từ vấn đề của các cặp đôi ở các quốc gia khác đã gặp, kể cả những chuyện tưởng vụn vặt như “chia” việc nhà.

Phương án tốt nhất chỉ đến khi vợ chồng, con cái cùng thẳng thắn nói ra mong muốn của mình, bàn cách hợp tác. Cứ im lặng rồi trách đối phương sao không tự hiểu là liều thuốc độc với mọi mối quan hệ. Quản trị gia đình cũng cần kiến thức.

Để cùng nhau vượt qua đại dịch trong hòa bình, vợ chồng tôi quyết định thỏa hiệp và thả lỏng: không trở thành bố mẹ hoàn hảo, không cần bữa ăn nào cũng phải ngon và đẹp mắt như ảnh “nhà người ta” trên mạng. Và quan trọng hơn, cả nhà cho nhau thời gian riêng tư để nạp lại năng lượng.

Có những thứ nhiều quá cũng không tốt, mà thiếu thì lại nguy.






./.


(Source: Le Ngo – VNE Goc Nhin)












./.

Posted in Uncategorized | 1 Comment

SS Collection 2 – Assertiveness


Như thế nào là quyết đoán?


Quyết đoán không phải là độc đoán. Quyết đoán là luôn bảo vệ cho những điều bạn muốn nhưng không bỏ mặc quyền lợi của người khác. Hầu hết mọi người đều cố gắng tỏ ra quyết đoán bằng một cách nào đó. Nhưng ít khi người ta thực hiện được như ý muốn. Tại sao?

Hãy phân tích để thấy điểm khác biệt giữa sự quyết đoán và các thái độ khác:

– Sự độc đoán: Hùng hổ để đạt được những điều mong muốn của bản thân bất chấp người khác bị ảnh hưởng ra sao.

– Sự độc đoán gián tiếp: bạn cố gắng đạt được điều mình mong muốn, nhưng không cho người khác biết bạn đang muốn gì. Có thể hiểu rằng bạn đang lừa dối người khác cho mục đích của mình. Ví dụ như một người đang cố tìm cách thoái thác việc tham dự một sự kiện nào đó.

– Bị động: Bạn thể hiện thái độ bị động khi lúc nào bạn cũng tự hạ thấp bản thân, chẳng bao giờ ủng hộ cho nhu cầu của mình mà cứ nhường cho thiên hạ. Bị động thường có nghĩa là tránh xung đột bằng mọi giá. Những kẻ bị động thường luôn miệng xin lỗi cho dù mình sai hay đúng.

– Quyết đoán: Quyết đoán nghĩa là bạn biểu lộ cảm xúc và nhu cầu của mình, nhưng bằng một cách thẳng thắn và chân thật. Bạn biết rằng mọi người xung quanh cũng có những mong muốn và hiểu rằng không ai hoàn hảo kể cả bạn, ai cũng có một giá trị đóng góp nhất định.


Làm thế nào để trở nên kiên định hơn?

Bạn phải mất thời gian rèn luyện để trở nên kiên định. Nhưng sau đây có một vài lời khuyên giúp bạn có thể ứng dụng ngay.

– Hãy nói thẳng: Điều này làm cho lời nói của bạn đơn giản và chân thật. Đừng nghĩ những nhu cầu của mình là tội lỗi.

– Hãy dùng đại từ “tôi”: Bạn nên làm chủ lời nói của mình. Nghĩa là, thay vì nói “Có vẻ tôi cần giúp đỡ” hãy nói “Tôi mong bạn giúp tôi“. Thay vì nói “Ở đây khó chịu quá” hãy nói “Tôi không thích ở đây“.

– Tìm cách thông tin điều mình muốn nói: Nếu điều bạn nói không được chú ý đến, hãy nói lại và đừng tỏ ra giận dữ. Hãy phát biểu như ban đầu cho đến khi được đón nhận.

– Tỏ ra thấu hiểu: Hãy để người khác biết bạn đang lắng nghe và cảm thông họ, ví dụ “Tôi hiểu rằng bạn muốn đi sớm hơn, nhưng chúng ta sẽ phải chờ đến tháng sau“.

– Tận dụng ngôn ngữ của dáng điệu cơ thể: Luôn để ý đến điệu bộ bản thân. Hãy luôn đứng thẳng, vững vàng và nhìn vào mắt người đối diện.

Chúc các bạn thành công!

(Source: kynangsong.XiTrum.net)

.

.

.

.

.

.

.

.

./.

* Bonus:

https://is.gd/dq_assertive_pros_cons_jpg



(tham khảo thêm từ sách “Quyết đoán trong mọi tình huống” của Sue Hadfield & Gill Hasson)


./.

Posted in GameTheory, Marketing, PositiveReinforcement, Skill | 2 Comments

Fun Learning 4 Children

For 1-3 year old children, I would like to introduce some YouTube videos/channel, which is more about fun/entertainment, but also has nice and “kind” content (dialogues/songs) – educational with regard to resistance of learning.

Heo Peppa
(Peppa pig) + heo em George


.

.

.

.

.

.

.

.




Sói Wolfoo
(Wolfoo) + sói em Lucy

.

.

.

.

.

.

.

.

Gấu trúc BabyBus
(BabyBus) + mèo Mimi

.

.

.

.

.

.

.

.

Diana
và Roma

.

.

.

.

.

.

.

.

.

Niki
(Nikita) và Vlad

.

.

.

.

.

.

.

.

. . .

./.

Posted in babysitting, GameTheory, PositiveReinforcement, Skill | Leave a comment

Keep Heart Healthy Book

Giữ tâm không bệnh

TT – Đọc Chẳng cũng khoái ru? của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, quả thật rất khoái. Khoái bút pháp rất giản dị nhưng chứa đầy “pháp vị” của tác giả (Thở không chỉ là thở, Nói không được…). Khoái cách “bắt mạch cho toa” một cách hóm hỉnh nhưng thật thân tình (Ngon và lành).


Thích những điều ông viết tưởng như nhẹ tênh mà thấm sâu tận gốc rễ nội tại (Có nghệ thuật ngủ…). Thích cách viết dung dị, đời thường, nhưng ẩn chứa những trăn trở, lo lắng khiến người đọc cũng phải suy ngẫm, bâng khuâng (Cho bệnh nhân, Bệnh và hoạn…, Một cách nhìn mới).

Hơn nữa, những gì ông muốn trao đổi với bạn đọc lúc nào cũng được trình bày bằng một ấn phẩm rất giản dị, vừa đủ xinh, chữ in to đẹp. Nội dung lại được chia ra thành tiểu phẩm ngắn. Đọc không quá “no” mắt, lại không “chật” đầu.

Qua các tiểu phẩm của ông, ta nhận ra bệnh tình của thân và tâm mình, không ít thì nhiều, cũng từ “ba nghiệp sáu căn” mà bệnh (Ai biểu già chi), cũng tại những định kiến, ái kiến mà khổ (Ưng vô sở trụ), cũng ngờ ngợ, lớ quớ mà lầm (Bác sĩ nhà quê). Nói tóm lại, những điều Đỗ Hồng Ngọc viết không lạ, nhất là với những ai đã từng đọc nhiều tác phẩm khác của ông (Già ơi… chào bạn!, Những người trẻ lạ lùng, Nghĩ từ trái tim, Thư gửi người bận rộn, Như thị…).

Ta hiểu ta có thể đã gặp, ta biết rất rõ, nhưng sao các tác phẩm của ông ta đều thấy cần thiết để đọc, cần thiết “bị” nhắc nhở, cần thiết nghe ông “kê bệnh cho toa” mà không thấy nhàm chán chút nào.

Đọc Đỗ Hồng Ngọc để cười sảng khoái, để được thực tập và nhất là để nhận rõ thân có thể bệnh nhưng tâm không được bệnh. Giữ tâm an vui sẽ điều trị được thân bệnh một cách nhẹ nhàng, hiệu quả. Thế “chẳng cũng khoái ru“?



(Chẳng cũng khoái ru?, Đỗ Hồng Ngọc, NXB Văn Nghệ)

./.

(Source: TuoiTreOnline)

Posted in PositiveReinforcement, Reading, Skill, Wisdom | Leave a comment

A* Algorithm AI – formal

Thuật giải A* – tìm đường (pathfinding), là 1 dạng thuật toán tìm kiếm có sử dụng Heuristic, có thể minh họa cho AI – intro/khởi đầu.

Có khá nhiều biến thể (variants), từ 7, 10, …, thậm chí lên tới 20.
Ý tưởng của tôi là sẽ dùng 5 cách diễn tả khác nhau về giải thuật này:
+ formal
+ informal
+ complicated
+ simplified
+ demystified

A* AI – formal

Heuristic và hàm Heuristic là gì?

Heuristic là phương pháp giải quyết vấn đề dựa trên phỏng đoán, ước chừng, kinh nghiệm, trực giác để tìm ra giải pháp gần như là tốt nhất và nhanh chóng.

Hàm Heuristic là hàm ứng với mỗi trạng thái hay mỗi sự lựa chọn một giá trị ý nghĩa đối với vấn đề dựa vào giá trị hàm này ta lựa chọn hành động.

A* là gì?

A* là giải thuật tìm kiếm trong đồ thị, tìm đường đi từ một đỉnh hiện tại đến đỉnh đích có sử dụng hàm để ước lượng khoảng cách hay còn gọi là hàm Heuristic.

Từ trạng thái hiện tại A* xây dựng tất cả các đường đi có thể đi dùng hàm ước lược khoảng cách (hàm Heuristic) để đánh giá đường đi tốt nhất có thể đi. Tùy theo mỗi dạng bài khác nhau mà hàm Heuristic sẽ được đánh giá khác nhau. A* luôn tìm được đường đi ngắn nhất nếu tồn tại đường đi như thế.

A* lưu giữ một tập các đường đi qua đồ thị, từ đỉnh bắt đầu đến đỉnh kết thúc, tập các đỉnh có thể đi tiếp được lưu trong tập Open.

Thứ tự ưu tiên cho một đường đi đươc quyết định bởi hàm Heuristic được đánh giá f(x) = g(x) + h(x)

  • g(x) là chi chi phí của đường đi từ điểm xuất phát cho đến thời điểm hiện tại.
  • h(x) là hàm ước lượng chi phí từ đỉnh hiện tại đến đỉnh đích f(x) thường có giá trị càng thấp thì độ ưu tiên càng cao.

Thuật giải A*

  1. Open: tập các trạng thái đã được sinh ra nhưng chưa được xét đến.
  2. Close: tập các trạng thái đã được xét đến.
  3. Cost(p, q): là khoảng cách giữa pq.
  4. g(p): khoảng cách từ trạng thái đầu đến trạng thái hiện tại p.
  5. h(p): giá trị được lượng giá từ trạng thái hiện tại đến trạng thái đích.
  6. f(p) = g(p) + h(p)
    • Bước 1:
      • Open: = {s}
      • Close: = {}
    • Bước 2: while (Open !={})
      • Chọn trạng thái (đỉnh) tốt nhất p trong Open (xóa p khỏi Open).
      • Nếu p là trạng thái kết thúc thì thoát.
      • Chuyển p qua Close và tạo ra các trạng thái kế tiếp q sau p.
        • Nếu q đã có trong Open
          • Nếu g(q) > g(p) + Cost(p, q)
            • g(q) = g(p) + Cost(p, q)
            • f(q) = g(q) + h(q)
            • prev(q) = p (đỉnh cha của q là p)
        • Nếu q chưa có trong Open
          • g(q) = g(p) + cost(p, q)
          • f(q) = g(q) + h(q)
          • prev(q) = p
          • Thêm q vào Open
        • Nếu q có trong Close
          • Nếu g(q) > g(p) + Cost(p, q)
            • Bỏ q khỏi Close
            • Thêm q vào Open
    • Bước 3: Không tìm được. 

Mô phỏng trên đồ thị

h(A) = 60 / h(B) = 53 / h(C) = 36 / h(D) = 35 / h(E) = 35 / h(F) = 19 / h(G) = 16 / h(H) = 38 / h(I) = 23 / h(J) = 0 / h(K) = 7

  • Đỉnh bắt đầu A.
  • Đỉnh kết thúc K.
  • Ước lượng khoảng cách từ đỉnh hiện tại cho đến đỉnh kết thúc f(x)=g(x)+h(x) trong đó g là khoảng cách ngắn nhất từ đỉnh hiện tại đến đích. Ví dụ: f(A) = 0 + 60.
BướcPCác đỉnh nối với POpenClose
0  A60 
1AB, HB64, H53A
2HG, I, AB64, G34, I45A, H
3GH, K, FB64, I45, K32, F53A, H, G
4KG, F, JB64, J32, F49, I45A, H, G
5K (dừng)   

Cây tìm kiếm ứng với đồ thị trên.

Từ đó mô phỏng thuật toán trên C++ dựa trên đồ thị ở trên.

Hiện thực giải thuật A*

Cách lưu các giá trị trên cây đồ thị

Dùng 2 file Input1.txt và Input2.txt để lưu các trọng số trên cây đồ thị.

File Input1.txt lưu giá trị h của mỗi node mà đề bài cho còn file Input2.txt lưu dưới dạng ma trận lưu khoảng cách giữa 2 điểm nếu giữa 2 điểm không có đoạn nối đánh 0 (tức khoảng cách giữa hai đỉnh này bằng không hoặc không có đoạn nối 2 đỉnh này).

Nội dung file Input1.txt lưu:

11
60 53 36 35 35 19 26 38 23 0 7

Trong đó: 

  • 11 là số đỉnh.
  • Mảng ở dưới là lưu các giá trị h của mỗi đỉnh theo thứ tự.

Nội dung file Input2.txt lưu:

11
0  11  0  0  0  0  0  15 0  0  0 
11 0   9  0  0  0  0  0  0  0  0
0  9   0  1  0  0  0  0  0  0  0
0  0   1  0  2  0  0  0  0  0  0
0  0   0  2  0  11 0  0  0  0  0
0  0   0  0  11 0  16 0  0  0  5
0  0   0  0  0  16 0  3  0  0  7
15 0   0  0  0  0  3  0  7  0  0
0  0   0  0  0  0  0  7  0  29 0
0  0   0  0  0  0  0  0  29 0  7
0  0   0  0  0  5  7  0  0  7  0

Trong đó:

  • 11 là số đỉnh
  • Ma trận kề ở dưới lưu mỗi liên hệ giữa 2 đỉnh và độ dài 2 đỉnh đó trong đồ thị theo thứ tự của các đỉnh.

Sau đó tạo 1 file main.cpp lưu đoạn code dưới này và chạy chương trình. Chương trình cho kết quả thứ tự các node đi qua từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc.

#include <fstream>
#include <iostream>
using namespace std;

struct Node
{
	int index;  // so thu tu
	int g;      // khoang cach tu dinh ban dau den dinh hien ta
	int f;      // f = h + g;
	int h;      // duong di ngan nhat
	int color;  // danh dau dinh di qua
	int parent;    // dinh cha
};

int a[100][100];
Node p[100];
Node Open[100];
Node Close[100];

void ReadInputFile1(int *b, int &n)
{
	fstream fs1("Input1.txt");

	if (!fs1.is_open())
	{
		cout << "Khong the mo duoc file!";
	}
	else
	{
		fs1 >> n;

		for (int i = 0; i < n; i++)
		{
			fs1 >> b[i];
		}
	}
    fs1.close();
}

void ReadInputFile2(int a[100][100], int &n, int &start, int &finsh)
{
	fstream fs2("Input2.txt");

	if (!fs2.is_open())
	{
		cout << "Khong the mo duoc file!";
	}
	else
	{
		fs2 >> n >> start >> finsh;

		for (int i = 0; i < n; i++)
		{
			for (int j = 0; j < n; j++)
				fs2 >> a[i][j];
		}
	}
	fs2.close();
}

void RhowMatrix(int a[100][100], int n)
{
	for (int i = 0; i < n; i++)
	{
		for (int j = 0; j < n; j++)
		{
			cout << a[i][j] << "\t";
		}
		cout << "\n";
	}
}

int Count(int n, Node *Open)
{
	int count = 0;
	for (int i = 0; i < n; i++)
	{
		if (Open[i].color == 1)
			count++;
	}
	return count;
}

int Find(int n, Node *Open)
{

	for (int i = 0; i < n; i++)
		if (Open[i].color == 1)
			return i;
    return -1;
}

int FindMin(int n, Node *Open)
{
	int minIndex = Find(n, Open);
	int min = Open[minIndex].f;
	for (int i = 0; i < n; i++)
	{
		if (Open[i].f < min && Open[i].color == 1)
		{
			minIndex = i;
			min = Open[i].f;
		}
	}
	return minIndex;
}

void Init(int n, int *b)
{
	for (int i = 0; i < n; i++)
	{
		p[i].index = i;
		p[i].color = 0;
		p[i].g = b[i];
		p[i].parent = 0;
		p[i].f = p[i].g;
		p[i].h = 0;
	}
}

int FindPoint(int n, Node *q, int o)
{
	for (int i = 0; i < n; i++)
		if (q[i].index == o)
			return  i;
    return -1;
}

void AStar(int a[100][100], int n, int start, int finsh, int b[])
{
	int l = 0;
	Open[l] = p[start];
	Open[l].color = 1;
	Open[l].f = Open[l].h + Open[l].g;
	l++;
	int w = 0;

	while (Count(l, Open) != 0) // kiem tra xem tap Open co con phan tu nao khong
	{
		int k = Findmin(n, Open); // tim vi tri nho nhat trong Open
		Open[k].color = 2; // cho diem tim duoc vao Close
		Close[w] = Open[k];
		Close[w].color = 2;
		w++;
		p[FindPoint(n, p, Open[k].index)].color = 2;
		if (FindPoint(n, p, Open[k].index) == finsh)
		{
			cout << "Duong di qua  la" << endl;
			cout << finsh << "\t";
			int y = FindPoint(w, Close, finsh);
			int u = Close[y].parent;
			while (u != start)
			{
				y = FindPoint(w, Close, u);
				u = Close[y].parent;
				cout << u << "\t";
			}
			break;
		}
		else
		{
			for (int i = 0; i < n; i++)
			{
				if (a[FindPoint(n, p, Open[k].index)][i] != 0 && p[i].color == 0) // neu chua co trong Open va Close
				{
					Open[l] = p[i];
					Open[l].color = 1;
					Open[l].h = a[FindPoint(n, p, Open[k].index)][i] + Open[k].h; // tinh h khoang cach ngan nhat tu dinh bat dau den dinh hien tai 
					Open[l].f = Open[l].g + Open[l].h;
					Open[l].parent = FindPoint(n, p, Open[k].index);
					p[i].color = 1;
					l++;
				}
				if (a[FindPoint(n, p, Open[k].index)][i] != 0 && p[i].color == 1) // neu dinh da co trong Open
				{
					int h = FindPoint(l, Open, p[i].index);
					Node tempNode = p[i];
					tempNode.color = 1;
					tempNode.h = a[FindPoint(n, p, Open[k].index)][i] + Open[k].h;
					tempNode.parent = k;
					tempNode.f = tempNode.h + tempNode.g;
					if (tempNode.f < Open[h].f) // neu f trang thai hien tai be hon trang thai cap nhat truoc do			
						Open[h] = tempNode;
				}
				if (a[FindPoint(n, p, Open[k].index)][i] != 0 && p[i].color == 2) // neu dinh da co trong Close
				{
					int h = FindPoint(l, Close, p[i].index);
					Node tempNode = p[i];
					tempNode.color = 1;
					tempNode.h = a[FindPoint(n, p, Open[k].index)][i] + Open[k].h;
					tempNode.parent = k;
					tempNode.f = tempNode.h + tempNode.g;
					if (tempNode.f < Close[h].f) // neu f trang thai hien tai be hon trang thai truoc do	
					{
						Open[l] = tempNode; // them vao Open
						Close[h].color = 1; // danh dau dinh do thuoc Open						
						l++;
					}
				}
			}
		}
	}
}

int main()
{
	int n;	
	int start;
	int finish;
	int b[100];

	ReadInputFile1(b, n);
	ReadInputFile2(a, n, start, finish);

	Init(n, b);
	cout << "Dinh bat dau" << endl;
	cout << start << endl;
	cout << "Dinh ket thuc" << endl;
	cout << finsh << endl;

	AStar(a, n, start, finish, b);
	return 0;
}

Nhận xét

Ưu điểm

Một thuật giải linh động, tổng quát, trong đó hàm chứa cả tìm kiếm chiều sâutìm kiếm chiều rộng và những nguyên lý Heuristic khác. Nhanh chóng tìm đến lời giải với sự định hướng của hàm Heuristic. Chính vì thế mà người ta thường nói A* chính là thuật giải tiêu biểu cho Heuristic.

Nhược điểm

A* rất linh động nhưng vẫn gặp một khuyết điểm cơ bản – giống như chiến lược tìm kiếm chiều rộng – đó là tốn khá nhiều bộ nhớ để lưu lại những trạng thái đã đi qua.

./.

(Source: stdio VN)

.

.

.

.

.

.

.


./.

Posted in GameTheory, Marketing, PositiveReinforcement, Skill | Leave a comment

Photos Young Old

Photos of the young photographer

1/

.

.

.

.

2/

.

.

.

.

3/

.

.

.

.

4/

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

Photos of the old photographer

.

.

.

.

.

.

.

.

5/

.

.

.

.

.

.

.

.

6/

.

.

.

.

.

.

.

.

7/

.

.

.

.

.

.

.

.

8/

.

.

.

.

.

.

.

.

./.

Posted in babysitting, CriticalThinking, Feeling, Marketing | Leave a comment